Sự linh ứng của thập chú
1. SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ RA NI”
Chú này trích trong kinh “ Như Ý Tâm Đà Ra Ni “. Vì ngài Quán Tự Tại Bồ Tát muốn cho chúng sinh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như ý nguyện nên Ngài bạch với Phật xin để Ngài tuyên thuyết chú này. Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của chú này thì cái thắng lợi ấy cũng ví như cái cây như ý, tùy nguyện muốn cầu việc gì cũng được.
Lúc Bồ tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện Ma vương đều nổi lửa cháy, sợ hãi khôn cùng, các loài độc ác chúng sinh đều lăn nhào té ngã, còn những kẻ thọ khổ trong đường điạ ngục và ngạ quỉ đều đặng sinh về cõi trời.

2. SỰ LINH ỨNG CỦA “TIÊU TAI CÁT TƯỜNG” THẦN CHÚ
Chú này trích trong kinh “Tiêu tai cát tường”. Kinh ấy nói : “khi Phật ở tại vùng trời Tịnh Cư Thiên nói với các Thiên chúng cùng Nhị thập bát tú và Thập nhị cung thần rằng : “Có chú Xí Thanh Quang đại oan ức đà ra ni” của Ngài Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây, là pháp để trừ tai nạn”.
Nếu trong đế đô quốc giới có các sao yêu tinh chiếu đến mà làm những điều chướng nạn, hay là các vì sao thuộc về can bổn mạng của nhân loại mà có sự gì bất tường thì phải lập ra đạo tràng, rồi y pháp khắc kỳ mà niệm chú này 108 biến, thì tai chướng tức thời diệt đặng hết”.

3. SỰ LINH ỨNG CỦA “CÔNG ĐỨC BẢO SƠN” THẦN CHÚ
Tập “Viên nhân vãng sanh” có dẫn trong kinh Đại Tập nói rằng : “nếu người tụng chú này một biến, thì công đức cũng như lễ kinh Đại Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến ( 45.400 ), còn như trì tụng chú này, thì trong lúc mạng chung chắc đặng sinh về bực thượng phẩm thượng sinh bên cõi Tịnh độ mà đặng thấy Phật A Di Đà”.
Câu nói trên đây, đã được tra ở các bộ Đại tập trong Đại tạng mà chưa thấy, hoặc giả có kinh Đại tập nào khác nữa mà chưa nhập tạng chăng.

4. SỰ LINH ỨNG CỦA “PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ” THẦN CHÚ
Chú này trích trong kinh Chuẩn Đề. Ở trước có 4 câu kệ của Ngài Long Thọ Bồ Tát :
“ Khể thủ quy y Tô tất đế, Đầu diện đảnh lễ thất cu chi, Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ”. Nghĩa là : “Cúi đầu quy kỉnh pháp viên thành, đảnh lễ đủ bảy trăm ức Phật, nay tôi xưng tán Đức Chuẩn Đề, nhờ lượng từ bi thường ủng hộ”.
Bài tụng trên đây câu đầu nói là quy y Pháp bảo, câu thứ hai nói về Phật bảo, câu thứ ba nói về quy y Tăng bảo, câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn Tam bảo gia hộ.
Chữ TÔ TẤT ĐẾ nguyên tiếng Phạn là “Susidhi”, Hán dịch là Diệu thành tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sinh rất mầu nhiệm.
Chữ “CU DE” hay là “CU CHI” nguyên là tiếng Phạn “KOTI”, Hán dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức, cho nên trên đây nói “thất câu chi” tức là bảy trăm ức vậy.
Chữ “CHUẨN ĐỀ” nguyên tiếng Phạn là “CANDI”, Hán dịch có hai nghĩa : 1 là Thi vi và 2 là Thành tựu.
Thi vi là Lời thề rộng trụ lý và cái trí lớn đoạn hoặc, đủ các cái nhân hạnh thi vi.
Thành tựu nghĩa là từ nơi không mà hiện ra giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ chú này xưng rằng : “Phật Mẫu Chuẩn Đề” là nói Pháp này là thầy và thiệt trí là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng Pháp “Chuẩn Đề tam muội” mà chứng đạo Bồ Đề.
Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng : “ Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ vi nhiễu đông đủ, Ngài nghĩ thương chúng sinh sau đời mạt pháp này, tội dày phước mỏng nên mới nhập “Chuẩn Đề định” mà thuyết chú như vầy : “ Nam mô tát đa nẩm, tam miểu tam bồ đề, câu chi nẩm, đát diệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha”.
Phật nói : “Nếu trì tụng chú này mãn chín mươi vạn ( 900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận gì tịnh uế hễ chí tâm trì tụng, tức tăng đặng phúc thọ, tiêu đặng tai bệnh; khi tụng mãn 49 ngày, thì Ngài Chuẩn Đề Bồ Tát khiến hai vị thánh thường theo người ấy mà ủng hộ.
Nếu người có hoặc cầu mở trí huệ, hoặc chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh giác, thì chỉ y pháp lập đàn, tụng đủ một trăm vạn ( 1.000.000 ) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh độ, thờ cả chư Phật, nghe cả diệu pháp mà chứng quả Bồ Đề”.

5. SỰ LINH ỨNG CỦA “THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ RA NI” CHÚ.
Chú này trích trong kinh “Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni”.
Kinh ấy nói : “Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sinh đoản mạng trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc nên Phật nói với Đại Trí Huệ Diệu Cát Tường Bồ Tát rằng : “Những nhân loại trong cõi diêm phù đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó lại có phần đông người tạo lắm ác nghiệp rồi bị trung yểu là khác. Nếu cả nhân loại này thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng, thì lại tăng thọ mạng đủ trăm số tuổi, mà qua đời vị lai đặng mau chứng quả Bồ Đề”.

6. SỰ LINH ỨNG CỦA “DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHÂN NGÔN”
Trong kinh nói trên, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bịnh gì mà cứ nhất tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống, thì các bệnh đều lành.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh và sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sinh về cõi “Tịnh lưu ly thế giới”. Nhưng phải biết rằng : Chú này được gọi là “Quán đảnh” là nói do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Nếu người nào thọ trì đọc tụng chú này mà đặng ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh, thì Phật quang chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
Cái sáng của Phật khác hơn cái sáng của ma, vì cái sáng của ma thì lòa chói và làm cho ta sợ hãi, còn cái sáng của Phật thì mát mẻ và làm chúng ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì kinh chú hay là niệm Phật cần phải rp4 phân biệt hai cái sáng ấy. Đừng thấy ma quang lập lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn đèn, nhìn nhang kia mà nhận lầm là thấy tánh.

7. SỰ LINH ỨNG CỦA “QUÁN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN”
Chú này không rõ do đâu mà dịch ra nhưng cái lòng từ bi nguyện độ chúng sinh của đức Quán Thế Âm đối với chúng sinh rất mật thiết, cho nên những người trì tụng chú này thì chắc được Ngài ủng hộ.

8. SỰ LINH ỨNG CỦA “THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN”
Chú này trong kinh “Đại phương đẳng đà ra ni”.
Kinh ấy nói: Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nghĩ thương về sau đến thời mạt pháp các chúng tỳ kheo có phạm tội “Tứ trọng” và các tỳ kheo ni có phạm tội “Bát trọng” thì làm sao mà sám hối đặng nên mới thuyết ra chú này. Chú này là chú của bảy Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội tứ trọng, ngũ nghịch mà đặng phước vô lượng.
Tội tứ trọng ngũ nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cái sám vô sinh, tưởng không thể nào có thể tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì chú này là bảy Phật đời trước xưng tánh thuyết ra cho nên những người trì tụng thì niệm niệm cũng xưng tánh mà đặng vô lý sinh. Cách diệt tội ấy ví như nước sôi đổ vào tuyết thì tuyết tan liền, lý cũng như vậy.

9. SỰ LINH ỨNG CỦA “VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ”
Chú này nguyên ở trong kinh “Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sinh Tịnh Độ Đà Ra Ni” mà trích ra.
Chú này có hai cách đọc như trên đây, nếu cứ chỗ tra cứu có bằng cớ, thì đọc theo chú dưới phải hơn, còn ai quen đọc tụng theo chú trên thì cũng được vì chú là gốc tiếng Phạn mà phiên dịch qua tiếng Hán rồi lại đọc theo tiếng nước Nam tưởng không thể gì cho khỏi sai tiếng.
Như chư Tổ hồi xưa có dặn : hễ người trì chú mà nhứt tâm thì tự nhiên thấy sự linh ứng, chứ dẫu có đọc sai lầm chút ít cũng không hại gì.
Trong truyện “Bất tư nghị thần lực” nói rằng: “Phép trì chú vãng sinh này phải rửa mình, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật rồi quì trước bàn thờ, chắp tay mỗi thời đều tụng 21 biến thì tức là diệt đặng các tội nặng phạm về tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và báng pháp”
Nếu người nào y pháp mà chí tâm trì tụng chú này thì đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không có oan gia thừa tiện nhiễu hại, mà được trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung được vãng sinh , còn như tụng đủ số ba mươi vạn ( 300.000 ) biến tức là diện tiếp mà thấy đặng đức Phật A Di Đà.

10. SỰ LINH ỨNG CỦA “THIỆN NỮ THIÊN CHÚ”
Chú này trích trong “Kim Quang Minh”.
Nguyên ba chữ “ Thiện thiên nữ” là lầm vì tra trong kinh thì nói rằng “Thiện nữ thiên” cho nên đính chính lại như vậy.
Trong kinh ấy nói rằng : “Nếu chúng sinh nghe nói chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng, hương hoa cúng dường thì nhứt thiết những môn thu dụng như vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng cụ túc hết thảy”.
CẬU TƯ.
Vật Phẩm Tâm Linh | Tâm Phát